CÁC VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM XIN Ý KIẾN NHÂN DÂN
VỀ DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)
(Ban hành kèm theo Quyết định số
01/QĐ-TTg ngày 02 tháng 01 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch
của Chính phủ về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Bộ luật dân
sự (sửa đổi))
I/ NỘI
DUNG TRỌNG TÂM LẤY Ý KIẾN:
1.
Về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự
Bộ
luật dân sự hiện hành quy định nguyên tắc tất cả các quyền dân sự của cá nhân,
pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ (Điều 9) nhưng
chưa quy định cụ thể trách nhiệm của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác trong
việc thụ lý, giải quyết vụ, việc dân sự trong trường hợp chưa có quy định của
pháp luật về vụ, việc dân sự đó.
Dự
thảo Bộ luật bổ sung Điều 19, theo đó, Tòa án không được từ chối yêu cầu giải
quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp
này, Tòa án căn cứ vào tập quán (Điều 11), nguyên tắc áp dụng pháp luật tương
tự, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và lẽ công bằng (Điều 12) để xem
xét, giải quyết.
Về
vấn đề này, hiện có hai loại ý kiến:
-
Loại ý kiến thứ nhất: nhất
trí với quy định của dự thảo Bộ luật vì các lý do sau đây:
Thứ
nhất, quy định như dự thảo Bộ luật sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, pháp nhân một cách kịp thời và triệt để hơn vì Tòa án có trách nhiệm xem
xét, giải quyết mọi tranh chấp dân sự, kể cả trong trường hợp không có luật
điều chỉnh;
Thứ
hai, quy định như dự thảo Bộ luật là nhằm triển khai thi hành một cách triệt để
quy định tại khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013, theo đó, “Tòa án nhân dân có
nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân”;
Thứ
ba, về kinh nghiệm quốc tế, ở nhiều nước cũng quy định Thẩm phán không được từ
chối giải quyết các vụ, việc dân sự kể cả trong trường hợp chưa có quy định của
luật.
-
Loại ý kiến thứ hai: đề nghị
không quy định vấn đề này trong Bộ luật dân sự vì các lý do sau đây:
Thứ
nhất, để Tòa án có thể giải quyết tất cả các tranh chấp dân sự, kể cả trong
trường hợp không có luật thì cần giao cho Tòa án quyền “giải thích pháp luật”.
Theo đó, trong trường hợp không có luật thì Thẩm phán, Hội thẩm căn cứ các
nguyên tắc chung của pháp luật, niềm tin nội tâm và lẽ công bằng để đưa ra phán
quyết. Các khái niệm này lại quá trừu tượng, không có tiêu chí rõ ràng; đồng
thời Hiến pháp và Luật tổ chức Tòa án nhân dân không trao quyền giải thích pháp
luật (theo nghĩa rộng như trên) cho Tòa án;
Thứ
hai, khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định, Thẩm phán, Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Việc quy định Thẩm phán và Hội thẩm phải
đưa ra phán quyết kể cả trong trường hợp không có luật là chưa phù hợp với Hiến
pháp;
Thứ
ba, quy định này thiếu tính khả thi vì việc thực hiện trên thực tế đòi hỏi Thẩm
phán, Hội thẩm phải được đào tạo một cách bài bản về nghiệp vụ, kỹ năng giải
thích pháp luật;
Thứ
tư, quy định này liên quan đến thẩm quyền, trách nhiệm của Tòa án, cần nghiên
cứu để nếu cần thiết thì quy định trong Luật tổ chức Tòa án hoặc Bộ luật tố
tụng dân sự.
.....